1. Diễn đàn SEO mamnongautruc.edu.vn tạm khoá để dọn dẹp spam. Các bạn vui lòng truy cập một số diễn đàn khác trong hệ thống để buildlink (check email mình đã gửi qua email cho mỗi bạn)
    Click vào Quảng cáo để ủng hộ diễn đàn phát triển,
    chỉ 60 giây thôi không làm mất nhiều thời gian của bạn đâu :)
  1. Diễn đàn Mầm non gấu trúc - Thuộc hệ thống diễn đàn BClick
    TOPIC SET DOFOLLOW
    Bạn cần có 10 bài viết mới được chèn link và SET DOFOLLOW

Cân và đo trong hệ SI

Discussion in 'Điện tử' started by duynguyen, Nov 30, 2015.

  1. duynguyen

    duynguyen Moderator Staff Member Staff Member Thành viên xác thực

    Messages:
    66
    Likes Received:
    1
    Những đơn vị đo lường cổ thường được chuẩn hóa tùy theo địa phương và thời đại. Theo truyền thuyết, ở nước Anh thời Trung Đại chúng được tính theo kích tấc thân vua Anh thời ấy: đốt ngón tay (inch), độ dài từ mũi đến hết bàn tay (yard) – hoặc theo hoạt động chuyển di: bước chân (foot) và khoảng cách tương đương với một giờ đi bộ (mile). Ở Trung Hoa thời cổ thì có các đơn vị khác như thốn (đốt), xích (thước), trượng, lý (dặm), lượng (lạng),cân, canh, khắc (giờ), v.V...
    Xem thêm: cân ô tô giá rẻ
    [​IMG]
    Bội số của các đơn vị đo cũng khác nhau, nó có thể theo hệ đếm thập phân hoặc hệ 4, 7, 16, 20, 24, 60 v.V. Nên xem và chuyển đổi rất phiền toái, gây thiệt hại kinh tế lớn.


    Ý tưởng hợp nhất một đơn vị đo lường căn bản là do nhà bác học Anh John Wilkins đề ra đầu tiên trong một tác phẩm xuất bản năm 1668 (hình trên). Năm 1675, nhà bác học Ý Tito Livio Burattini gọi nó là mét và định nghĩa bằng một mẫu chuẩn (nay đo được khoảng 993,9 mm).

    Sau một thời kì dài giao thương các sản phẩm công nghiệp cùng sự phát triển khoa học và kỹ thuật, nhiều chính quyền thấy phải áp đặt trong thực tại một hệ thống đo lường chuẩn hóa chặt. Với sự thiết lập hệ mét-thập phân ở nước Pháp cách mệnh tư sản thì châu Âu mới kết thúc dần dần tình trạng đo bừa bãi. Hệ này được Vương quốc Hà Lan dùng từ 1816 nhưng ngay tại Pháp thì bị bãi bỏ năm 1812 khi Napoleon đổ và chỉ tái lập sau khởi nghĩa Paris 1830.


    Hệ mét (1795)

    Ở Pháp, nguyên tắc nép ứng dụng các đơn vị đo đã được ấn định trong Công ước theo sắc lệnh ngày 18 tháng Nảy mầm năm thứ III của quốc gia Cộng hòa, tức 7-4-1795. Sắc lệnh đó thiết lập hệ mét, ấn định danh mục các đơn vị và lần đầu tiên đã chính thức dùng định nghĩa 1 mét bằng 1/40 triệu độ dài kinh tuyến địa cầu. Mặt khác lấy đơn vị khối lượng là kilogram.

    Ngày 22 tháng 6 năm 1799, những mẫu chuẩn trước nhất của mét và kilogram đã được đặt ở Viện lưu trữ quốc gia Pháp, tại Sèvres, gần Paris. Cũng năm đó, ở Pháp, đạo luật ngày 19 tháng Giá rét năm VII (tức ngày 10-12-1799) quy định bức vận dụng hệ mét. Quá trình chuyển sang sử dụng hệ mét trên thế giới tuy nhiên đã tiến triển mất gần hai thế kỷ.

    Hệ đơn vị quốc tế SI (1960)

    Năm 1832 nhà bác học Đức Gauss đưa ra hệ thống Gauss, rồi 30 năm sau, các nhà vật lý Anh Maxwell et Thomson đưa ra hệ thống CGS, cả hai hệ này đều dựa trên 3 đơn vị cm, gram, giây. Năm 1946 hệ thống MKSA ra đời, dựa trên 3 đơn vị mét, kilogram, giây và thêm ampe. Năm 1954 thêm kenvin và canđela.


    Năm 1960, hệ đơn vị đo lường quốc tế SI (Système international d’unités, tức ISO 1000) đã xác định 6 đơn vị căn bản trên, từ đó suy ra các đơn vị khác (thí dụ véc tơ vận tốc tức thời m/s, áp suất kg/m2). Năm 1971 thêm đơn vị mol và do vậy hiện nay hệ SI bao gồm 7 đơn vị cơ bản ký hiệu là: m, kg, s, A, K, mol, cd. Cụ thể:

    - Độ dài: mét (m);

    Xem thêm: cân kỹ thuật giá rẻ
    - Khối lượng: kilogram (kg);

    - Thời gian: giây (s);

    - Cường độ dòng điện: ampe (A);

    - Nhiệt độ: kenvin (K, tương đương với °C tức độ Celsius, nhưng thang nhiệt kế kenvin xuất phát từ không độ tuyệt đối chứ không phải 0°C, 0°C = 276,16°K);
    - lượng chất (mol);

    - Cường độ sáng canđela (cd).

    Các đơn vị đo lớn nhỏ hơn thì được hợp nhất tính theo hệ thập phân (trừ thời kì tính riêng theo hệ 60/24/7/365).

    Tại khối Ănglo-Xắcxông, tới năm 1980 nước Anh mới hoàn toàn chuyển đổi xong sang hệ SI và cùng Canada, Nam Phi, New Zeland, Úc là 5 nước chuyển chậm nhất.

    Tuy nhiên những đơn vị truyền thống (ounce, karat, inch, galon...) Vẫn được dùng phổ biến ở một vài lĩnh vực riêng như kim khí đá quý, điện tử và bia, rượu, sữa v.V.


    TĨNH HỌC VÀ CƠ HỌC


    Tĩnh học (thế kỷ XVI-XVII)

    Nhà bác học xứ Flandre S. Stevin (1548-1620), tức Simon de Bruges, được coi là người sáng tạo ra môn tĩnh học thời nay. Tĩnh học là khoa học nghiên cứu sự cân bằng của các vật thể, cũng như các điều kiện tạo nên sự cân bằng đó. Nhân tài đi trước Stevin là nhà bác học người Hy Lạp thời cổ đại Archimède.

    Trung tâm (thế kỷ II tr. CN)

    Archimède sinh ra ở Syracuse vào năm 287 trước CN, ông là người trước nhất đã xác định được trọng điểm của những vật rắn đồng chất có hình dạng xác định như hình trụ, hình cầu và hình nêm. Archimède đã phát triển khái niệm đó trong tác phẩm Sách về sự thăng bằng. Ở đó, ông cũng đã diễn tả một lý thuyết đòn bẩy chặt đẹp nhất.

    Cân treo (khoảng 3500 tr. CN)


    Khoảng 3500 trước CN, để cân tiểu mạch hoặc vàng, người Ai Cập đã sử dụng cân hai đĩa treo trên một tay đòn.

    Cân thiên bình (thế kỷ X tr. CN)

    Loại cân này có hai tay đòn không đều do người Trung Quốc phát minh ra vào thế kỷ X trước CN, được những dân du mục cưỡi ngựa mang đến phương Tây khoảng gần trước khi chúa Giêsu ra đời. Hiện nó vẫn đang được sử dụng.
    Cân Roberval (1670)

    Năm 1670, nhà toán học, vật lý và cơ học Pháp G. P. De Roberval (1602-1675) đã giới thiệu một trong những phát minh của mình với Viện hàn lâm Khoa học Paris. Đó là cái cân hai đĩa được đỡ bởi một đòn cân và gắn với một đòn đỡ bởi hai cọc cứng dẫn hướng cho chuyển động của chúng.

    Một thời kì dài, cân Roberval là phổ biến nhất trong các loại cân thương nghiệp. Nó đã được thay thế bởi cân Roberval bán tự động rồi sau đó bởi cân điện tử.

    Cân nhanh nhất trên thế giới (1988)

    Do tổ chức Pháp Saviphar hiệu chỉnh, loại cân này, được gọi là Regulator II, là một hệ thống đo lường mới có gắn với máy tính cho phép cân được hơn hai trăm lần trong một phút. Vậy nên nó là loại cân nhanh nhất trên thế giới, có thể sử dụng trong nhiều lĩnh vực cần chuẩn xác như trong công nghiệp dược hoặc công nghiệp chất nổ. Nhờ lắp máy vi tính và lực kế điện tử tự động nên độ chính xác của cân vào cỡ 1/10.000.

    Thủy tĩnh học (Hydrostatics)

    Nguyên lý Archimède

    Archimède (287-212 tr. CN) là người trước hết đã phát biểu nguyên lý vật nổi mang tên ông: bít tất vật nhúng trong một chất lưu (lỏng hoặc khí) ở thăng bằng trong đó sẽ chịu một lực đẩy thẳng đứng, hướng từ dưới lên trên, bằng trọng lượng của chất lưu bị vật chiếm chỗ và đặt tại trọng tâm phần chất lưu bị chiếm chỗ.

    Ơreka!

    Ta biết rằng sau khi tìm ra nguyên lý mang tên ông, Archimède đã thốt lên “Ơreka!” (Tìm thấy rồi!) và chạy ra khỏi buồng tắm quên mặc quần. Những tình tiết khác quanh khám phá đó được biết đến ít hơn: người ta kể rằng tên bạo chúa thành Syracuse, Hiéron II, một kẻ bản tính đa nghi, đã giao vàng ròng cho một người thợ kim hoàn để đúc và chạm một chiếc vương miện. Archimède đã được giao nhiệm vụ rà soát công việc của người thợ thủ công đó. Lúc hiện ông đã có ý nhấn chìm vào trong một cái chậu đầy ắp nước trước hết là vương miện, rồi sau đó là vàng và bạc cùng trọng lượng như trọng lượng của vương miện. Người ta kể rằng sau mỗi lần nhúng như thế ông lại cân nước trào ra.

    Chung cục ông đã phát hiện ra con số của lần cân đầu nằm giữa các con số của hai lần cân sau, chứng tỏ rằng vương miện đã được làm từ một hẩu lốn của vàng và bạc. Và thế là người thợ kim hoàn, kẻ đã ăn trộm vàng ròng phải sửa lại vương miện.


    Nghịch lý thủy tĩnh (1586)

    Nhà toán học và vật lý học xứ Flandre S. Stevin, nhân viên thanh tra đê điều của chính phủ Hà Lan và với chức đó, ông trực tiếp quan hoài tới các lực bên trong các chất lỏng và là người trước tiên tiến hành nghiên cứu khoa học thực sự về chúng.

    Năm 1586 đã xuất hiện ba cuốn sách cơ học của ông. Ở đó ông đã tả nghịch lý thủy tĩnh lừng danh: áp suất của một chất lỏng lên đáy của bình chứa chỉ phụ thuộc vào độ cao so với đáy bình của chất lỏng và không phụ thuộc vào hình dạng bình chứa. Trái lại, trọng lượng của chất lỏng chứa ở trong lại phụ thuộc vào dạng hình bình chứa.

    Hệ thức cơ bản (1651-1654)


    Năm 1663, đã xuất bản cuốn “Khảo luận về sự cân bằng của các loại rượu” của B. Pascal (1623-1662). Trong công trình viết giữa các năm 1651 và 1654 đó, Pascal đã phát biểu lại theo ý ông nghịch lý thủy tĩnh do Stevin nêu lên:

    Hiệu áp suất lực giữa hai điểm trong một chất lỏng ở trạng thái cân bằng thì bằng trọng lực của cột chất lỏng có độ cao bằng hiệu các độ cao của hai điểm. Về sau từ đó suy ra nguyên lý bình thông nhau.

    Định lý căn bản


    Vẫn xuất phát từ hệ thức căn bản, Pascal đã rút ra định lý căn bản của ông: quờ quạng phần áp suất tăng ở một điểm trong một chất lỏng không nén được ở cân bằng đều được truyền nguyên vẹn sang hết thảy các điểm của chất lỏng đó.

    Trích sách “Thế giới phát minh” (Le Livre mondial des Inventions), do Valérie-Anne Giscard d’Estaing

    Xem thêm: http://www.bitoms.org/search/label/can-cong-nghe
     

Share This Page